Ngọc Năm Computer xin kính mời quý thầy cô và các bạn truy cập website
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Võ tây sơn
Tây Sơn - Bình Định là một địa danh võ thuật. Nơi đây cũng là nơi phát tích của nhà Tây Sơn mà lịch sử đã ghi dấu ấn những chiến công hiển hách của Hoàng đế Quang Trung với một đội quân được luyện tập nhuần nhuyễn về võ thuật. Câu ca dao đầy khí phách của đất Bình Định vẫn còn lưu truyền, cho thấy võ Tây Sơn - Bình Định mang dáng dấp của võ cổ truyền dân tộc:
Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định múa roi đi quyền.
Khi nói về võ thuật, cố võ sư Hồ Ngạnh đã khái quát như sau: “Võ thuật là bản năng tranh tồn của nhân loại và động vật khác. Lúc sơ sinh, nhân loại không dài bằng rồng rắn, mạnh không bằng cọp beo, như vậy mà nhân loại có thể chiếm cứ cả vùng đồng bằng to rộng, ngày cày cấy ngoài đồng, đêm nghỉ ngơi trong nhà. Ban đầu đều nhờ vào sự tiến hóa của võ thuật mới có thể đuổi rồng rắn chạy ra biển, đuổi cọp beo vào rừng sâu. Cuối cùng đến nguyên lý kẻ giỏi thắng, kẻ yếu thua. Phía bắc cự quân Hán, quân Đường, phíaNamthắng Chiêm Thành, Chân Lạp, mới có được nước Việt ta ngày nay” theo ông quyền thuật trường phái nào cũng chỉ gói gọn trong 10 chữ:
1. Thủ (tay) 6. Thức (hiểu biết)
2. Nhãn (mặt) 7. Đảm (lòng gan dạ)
3. Thân (thân thể) 8. Khí (hơi thở, khí thế)
4. Yêu (lương) 9. Kích (sức mạnh nội thể)
5. Bộ (bước) 10.Thần (tinh thần)
* Phát tích của võ thuật
Võ thuật là bản năng sinh tồn của nhân loại. Lúc đầu lập quốc, tổ tiên ta đã phải chống chọi với biết bao sự vật đổi sao dời của thiên nhiên, cùng nguy hiểm do bầy ác thú gây ra. Có một rẻo đồng bằng ven biển chật hẹp, ba bề núi chắn, con người dân không lúc nào không dùng võ thuật chiến đấu với ác thú, với ngoại xâm để sinh tồn. Như vậy, gọi võ thuật là bản năng, là lợi khí sinh tồn của nhân loại không phải là không đúng! Ba anh em nhà Tây Sơn thời đó được gửi học võ tại võ đường của một bậc trượng phu - võ sư Trương Văn Hiến. Ông dạy cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm võ. Người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Văn võ phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững. Vị sư phụ họ Trương dẫn dắt trai tráng đến đất võ bằng đường văn! Trong dân gian, từng gia đình có sự truyền thụ rất công phu để cháu con lên rừng, ra rẫy không e ngại muông thú, có việc đi đường xa không sợ đạo tặc. Giỏi võ trước hết là để giữ mình, để làm người trượng phu, không làm kẻ giặc bạo tàn! Do đó, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là những quy pháp trong võ thuật.
* Đặc điểm của võ Tây Sơn
Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đã tiếp thu tinh hoa độc đáo của các dòng võ khác nhau để xây dựng dòng võ Tây Sơn với những đặc điểm riêng.
Tính dân tộc: Trong các chiến công của Hoàng đế Quang Trung, người ta nhận thấy võ thuật và binh pháp giữ vai trò rất quan trọng. Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc. Ra đòn nhanh, biến hóa khôn lường, lấy thủ làm công, lấy công giữ thủ song toàn, hư thật bất phân, khéo léo trăm bề, tư thế nghìn nẻo, làm cho đối phương rất khó chống đỡ. Ông Nguyễn Lữ, em Nguyễn Huệ, đã làm cho võ thuật ViệtNam trở thành một trường phái độc đáo không kém võ Trung Quốc. Người Việt ta có thân hình bé nhỏ, sức khỏe hạn chế so với người Tàu. Võ Trung Quốc phải luyện từ 10 năm trở lên. Muốn cho các chiến sĩ Tây Sơn tinh thông võ nghệ trong một thời gian ngắn thì phải luyện theo cách khác. Nguyễn Lữ nghiên cứu các thế gà đá nhau áp dụng vào võ thuật, từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh, dùng mềm thắng cứng. Ông cũng nghiên cứu các thế đá ào ạt tấn công của con gà lớn với cái thế chống đỡ của con gà nhỏ thường chui luồn, xỏ vỉa, từ đó tạo ra các thế lặn hụp, tránh né, đến phản công. Cuối cùng ông đã sáng tạo ra bài quyền mang tên "Hùng Kê Quyền". Nữ tướng Bùi Thị Xuân khi quan sát đôi chim đậu trên cành cây đùa nhau cũng sáng tác bài "Song Phượng Kiếm".
Tính truyền thống: Trước đây người dân Bình Định đều biết võ để tự vệ. Họ truyền cho nhau trong thôn xóm, bản làng. Với người thân thì cha truyền cho con, chồng truyền cho vợ, anh truyền cho em... Nhờ đó, những bài võ từ thời xa xưa vẫn được lưu truyền. Võ Bình Định đã có nhiều môn phái khác nhau, nhưng tựu trung vẫn giữ truyền thống của miền đất võ. Cách đây hơn sáu năm, đoàn võ thuật Bình Định gồm Kim Dũng, Đinh Tuấn, Văn Cảnh... nhiều lần sang Pháp giảng dạy theo lời mời của Liên đoàn Võ thuậtParis, Marseille, Orion và nhiều địa phương khác, đã để lại niềm tự hào cho những người đồng hương sống trên đất khách quê người. Các nữ võ sĩ thuộc Câu lạc bộ Võ thuật Paris rất thích thú, thán phục bài thảo "Ngọc trản" đầy biến hóa, mềm mại như điệu múa khi sử dụng nhu công và hài hòa như một bức tranh khi cương nhu phối hợp. Bài thảo được trình diễn một cách hoàn hảo về nghệ thuật, về sức mạnh, thể hiện nét đẹp vốn có của võ Tây Sơn - Bình Định. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ võ đạo xưa. Những điều nên làm, nên tránh đối với các môn sinh vẫn giữ nguyên và ba điều tâm niệm chính là: Kính tổ - Trọng thầy - Mến bạn.
Tính đa dạng và liên hoàn: Võ Tây Sơn - Bình Định rất đa dạng và phong phú. Bất cứ môn phái nào cũng theo bí quyết quyền thuật, một sức mạnh tổng hợp, dung hòa trên, dưới, trái, phải, trước, sau. Phép dùng liên quan với nhau của lực họp chia ra nội tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên trong là tinh, khí, thần. Ngoại tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên ngoài là thủ, nhãn, thân. Trong ngoài hợp với nhau đó là lục hợp. Có được như vậy mới đủ khả năng thắng địch thủ. Tính liên hoàn rõ nét trong việc sử dụng 18 ban binh khí, chia ra 9 loại võ khí dài và 9 loại võ khí ngắn. Dù bất cứ loại võ khí nào cũng đều không ra ngoài 6 điểm: chém xuống, chém ngang, hất lên, gạt xuống, lướt qua và đè. Từ khi nhà Tây Sơn sập đổ, Nguyễn Gia Long vẫn sợ "oai hùm" nên cấm ngặt toàn bộ 18 ban binh khí của quân đội Tây Sơn - những vũ khí lợi hại làm nên sự bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung ở thế kỷ 18. Mãi đến khi Bảo tàng Quang Trung được thành lập năm 1979 mới thu gom được 9 môn. Hiện nay các võ sinh ở Bảo tàng Quang Trung thường biểu diễn khi khách trong và ngoài nước đến tham quan.
* Sự liên quan giữa võ Tây Sơn và võ Bình Định
Trước thời Tây Sơn, ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ. Những người này có thể là tướng sĩ theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, cũng có thể là những người Trung Quốc sang Việt Nam trú ngụ tại vùng Quy Nhơn, An Nhơn. Người Bình Định vốn ưa học võ, đã học thầy, học bạn, rồi dung hòa cải tiến dần. Theo cụ Hồ Ngạnh, ba anh em Tây Sơn cũng học võ như mọi người, nhưng nhờ óc phán đoán, thiên tư võ thuật, nghiên cứu tinh thâm, đã gạn lọc được những tinh hoa võ thuật, hệ thống lại và tạo thành phái võ riêng. Công trình này cũng có sự đóng góp của nhiều tướng lĩnh Tây Sơn. Sau đó, võ Tây Sơn được phổ biến hạn chế trong quân đội. Những người này nắm được một số chân truyền của môn phái rồi truyền dạy lại cho con cháu, học trò. Lại pha trộn thêm võ Bình Định, hoặc cải cách ít nhiều để tránh sự nhòm ngó của triều Nguyễn. Cũng theo cụ Hồ Ngạnh, võ Tây Sơn, võ Bình Định đều là võ dân tộc ViệtNam. Môn phái nào cũng hay. Tuy nhiên có vài đặc điểm khác nhau là võ Tây Sơn có cơ sở về võ lý được biến đổi qua các dòng họ, được chân truyền của môn phái; còn võ Bình Định được truyền dạy tương đối tùy tiện, thêm bớt, sửa đổi những điều mình đã học để dạy lại cho học trò. Lâu dần, võ Bình Định chuyên về cương công - công phu cứng rắn, xa dần nhu công - công phu mềm dẻo. Võ Bình Định thích hợp với người có thể chất khỏe mạnh, nên mới có câu "Võ dĩ dũng vi bán" - võ lấy sức mạnh làm một nửa, những người ốm yếu khó học được. Ngược lại, võ Tây Sơn chú trọng cả cương lẫn nhu. Càng luyện tập, võ sĩ thuộc phái Tây Sơn càng mềm dẻo, nhưng càng lợi hại. Võ Bình Định chuyên về ngoại công - công phu luyện tập bằng chân tay, võ khí, ít chú trọng về nội công, hít thở, vận khí như võ Tây Sơn.
CA QUYẾT TRONG MÔN PHÁI VÕ TÂY SƠN
Môn quyền thuật tinh thâm ảo diệu
Lúc lâm trường phải liệu làm sao?
Tay vung chân đá thế nào
Tấn công như thể ào ào cuồng phong .
Tập ngũ hành phải tập cho ròng
Ngọn kim,ngọn hỏa nằm lòng mới thôi
Nhảy cao, đá lẹ, té ngồi,
Bảy công, ba thủ tập rồi hay chưa?
Mây bộ trụ thật khó chẳng vừa
Trung bình,đinh tấn phải thừa công phu.
Tập ròng như vậy ba thu,
Mới sang học thảo rồi tu tập hoài
Tứ môn,tứ diện chẳng sai
Ngân đài, ngọc trản nhớ hai chữ này.
Đoàn đánh ra giống tựa mây bay
Chân đạp tới trông tày lưu tinh.
Đánh rộng, đánh hẹp tùy mình
Thế lùa,thế điếm cho minh mới là.
Làm con trai trong lúc xông pha
Phải chiến thắng tỏ ra anh hào.
Dù gặp quân hung hãn đừng lo
Nghe cao,đảm đại đều do ở mình.
Khuyên ai luyện võ cho tinh
Giữ thân, giữ nước công trình ngàn thu.
(theo võ sư Hồ Ngạnh )
CÁC LÒ VÕ TÂY SƠN
I. VÕ ĐƯỜNG PHAN THỌ
Võ đường Phan Thọ do võ sư Phan Thọ làm chủ môn phái, ông sinh năm 1928, quê quán thôn 4, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn.
Võ sư Phan Thọ
Phan Thọ học võ từ năm 15 tuổi, bái sư cụ Cai Bảy (chính danh Nguyễn An, con cả của cố lão sư Hương mục Ngạc nổi tiếng thời Pháp thuộc). Năm 24 tuổi, sau khi đã tinh thông những bài bản cao thâm của thầy Cai Bảy, dù đã lập gia đình và có đứa con trai đầu lòng, ông vẫn quyết bán đôi bò cày, một tài sản lớn lúc bấy giờ để lấy tiền chuyên tâm tầm sư học đạo. Khi ở làng võ An Vinh thì học thầy Sáu Hà, rồi qua làng võ An Thái học cụ Tàu Sáu (Diệp Trường Phát), lên làng võ Thuận Truyền học sư Hồ Ngạnh. Cứ như vậy ông học hỏi và luyện tập võ thuật suốt 20 năm ròng. Nhờ kiên tâm khổ luyện, Phan Thọ là một trong những võ sư hiếm hoi hiện nay tinh thông thập bát ban binh khí, biểu diễn rất bài bản, tuyệt chiêu một số bài quyền, roi: Quyền pháp Ngọc Trản, Tiên Ông, Thần Đồng, Bát Quái, Ngũ Hành, Lão Mai; đao pháp Siêu xung thiên, côn pháp Bát quái… Ngoài ra, ông còn áp dụng thông thạo các loại binh khí hiếm gặp, chỉ lưu truyền ở lòng dân bản địa mà dân gian gọi là võ thế, võ vườn như võ đòn sóc (đòn gánh hai đầu nhọn), võ bồ cào (chỉa ba mũi nhọn)…
Theo các võ sư ở Bình Định, Phan Thọ là lão võ sư có bộ tay biểu diễn võ thuật hay nhất trong giới võ sư võ cổ truyền Bình Định hiện nay. Mỗi khi võ sư Phan Thọ đi quyền, người ta thấy được cái thực và chính là cốt lõi võ học lộ ra trong những đường chuyển động bao hàm sự cao siêu lẫn giản dị như những lẽ phải trong cuộc sống đời thường. Võ đường Phan Thọ hiện có khá đông môn sinh đang sinh sống, lập nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Địa chỉ võ đường Phan Thọ: Xã Bình Nghi, Huyện Tây Sơn, Tỉnh Bình Định.
Số điện thoại: 0985581399 - Võ sư Phan Thọ.
Lão võ sư Phan Thọ với chiêu "Độc xà thám nguyệt"
Lão võ sư Phan Thọ hiện nay là một trong số ít những người am tường về 18 môn binh khí và nắm được những tinh hoa của môn võ Tây Sơn. Ông là hiện thân tiêu biểu về "dân võ" của Bình Định. Năm lên 15 tuổi, Phan Thọ tìm đến An Vinh để theo học võ thầy Cai Bảy, học quyền thuật tại đây được 5 năm, ông lại tiếp tục tìm đến võ sư Diệp Trường Phát (còn gọi là Tàu Sáu) để học kiếm pháp. Sau đó ông lại tìm đến đại đồ đệ của võ sư Hồ Ngạnh là thầy Châu để học về côn. Đặc biệt, ông được học thêm 6 chiêu thức độc đáo của một người "chuyên kiếm sống về đêm" mà vì lý do tế nhị nên ông không nêu tên. Theo ông, 6 chiêu thức của người này rất tuyệt diệu, nhờ nó mà ông đã giành được không ít trận thắng. Chính những năm tháng bôn ba "tầm sư học võ", Phan Thọ đã tập hợp được nhiều nét tinh hoa của võ Bình Định. Cá tính rất mạnh và cũng là nét nổi bật của ông là "tính tự ái dân tộc", ông không bao giờ chấp nhận ai coi thường dân tộc mình, nhất là trong lĩnh vực võ học. Vì vậy, ông đã nhiều lần "phiêu lưu" cả tính mạng của mình để "khẳng định" võ Bình Định không thua kém ai. Cho đến nay, người ta vẫn truyền miệng với nhau những giai thoại về 3 lần hạ gục các võ sĩ Đại Hàn (Hàn Quốc) của ông. Trong cái nắng chiều hanh hao của những ngày cuối năm, tôi có dịp hầu chuyện lão võ sư về quãng đời mà ông đã đi qua sau khi cạn chén rượu Bàu Đá ông mời.
Với ông thì "vô tửu bất thành lễ".
Bằng chất giọng khỏe khoắn, sôi nổi, ông đã kể cho tôi nghe tường tận về chuyện 3 lần ông tỉ thí với các võ sĩ Đại Hàn. Lần đầu tiên ông đấu với một sĩ quan Tứ đẳng huyền đai Teakwondo, tên Lee, ngay trên quê hương Tây Sơn của mình. Tên sĩ quan này đóng quân gần Bình Nghi và cậy thế mình giỏi võ Teakwondo nên thách ai đấu thắng sẽ có thưởng.
Lão võ sư Phan Thọ cười hề hề: "Tui đâu mong gì ở giải thưởng của nó, tại thấy nó hống hách quá, với lại hồi đó tui mong muốn có được một ít lựu đạn để đánh cá chơi nên nhận lời thách đấu với nó, nếu tui thắng, chỉ cần lấy một thùng lựu đạn thôi. Nó đồng ý. Cái võ của Đại Hàn là rất hay ở cặp chân, nó đá rất nhanh và mạnh, lúc đầu tui chỉ né tránh để tìm sơ hở, khi thấy nó đá nhiều mà phòng thủ không chắc, tui dùng thế Độc xà thámnguyệt "lặn" qua háng và húc thẳng vào hạ bộ làm nó té nhào chết điếng, vậy là tui khiêng thùng lựu đạn về đánh cá cho đã".
Lần thứ 2 ông thi đấu với võ sĩ Đại Hàn ấy là vào năm ông 46 tuổi. Nhân dịp ngày giỗ Tổ vua Hùng tổ chức tại Pleiku, những sĩ quan Đại Hàn đưa một số võ sinh theo học Teakwondo từ Sài Gòn lên Pleiku để tham gia đấu võ. Đoàn võ cổ truyền Tây Sơn gồm có 20 võ sĩ, do võ sư Hà Trọng Sơn dẫn dầu cũng được mời lên tham gia. Lần lượt các võ sĩ của Bình Định đã giành chiến thắng trước các võ sĩ do Đại Hàn đưa lên. Sau đó, viên tùy tùng có tên là Joo, của ông sĩ quan trưởng đoàn Đại Hàn, thách đấu với đoàn võ sĩ Bình Định. Lão võ sư Phan Thọ hào hứng kể lại: "Thấy thằng này tới Ngũ đẳng huyền đai Teakwondo mà lại cao to nên anh em ai cũng ngán, được thế nó dương dương tự đắc. Tui nhìn cái mặt nó câng câng đi qua đi lại trên sàn đấu mà thấy nóng cả người. Mặc cho anh em ngăn cản, tôi nhảy phắt lên sàn nhận lời thách đấu. Tai tui chỉ kịp nghe một tiếng si….a…a… là thấy cặp giò của nó tung ra những cú đá vun vút, tui "lặn" người xuống tránh đồng thời cũng dùng thế Độc xà thám nguyệt húc đầu vào hạ bộ khiến nó té nhào xuống sàn và bị trật khớp tay, chính vì bị đòn bất ngờ nên nó xin hòa chứ không đấu nữa…".
Có thể nói thế "Độc xà thám nguyệt" là một trong những tuyệt chiêu mà lão võ sư Phan Thọ tập luyện được. Khi tập tuyệt chiêu này, ông bố trí các hình nộm xen kẽ nhau đồng thời buộc dây ngang tầm thắt lưng. Sau đó tập né tránh, lặn qua dây, lách qua các hình nộm cho thật nhuần nhuyễn. Độc xà thám nguyệt (một con rắn thăm dò khuôn trăng) là chiêu thức cúi hụp người xuống để né đòn đá của đối phương rồi dùng đầu húc thẳng vào hạ bộ để triệt hạ đối phương. Năm 1998, một đoàn võ sư, võ sĩ của Hàn Quốc lại sang Bình Định với mong muốn "giao lưu, học hỏi" võ cổ truyền Bình Định. Lãnh đạo Sở TDTT đưa những người này lên Tây Sơn để giao lưu về võ học. Khi diện kiến lão võ sư Phan Thọ, một trong số này đã khiêu khích: Võ Tây Sơn kém quá, đã mấy ngày rồi mà không tìm được ai để thi đấu. Thế là câu nói này chạm đúng lòng tự ái của Phan Thọ, khi ấy ông đã 71 tuổi, ông liền nhờ cô thông dịch viên nói lại với đoàn võ sĩ Hàn Quốc là ông nhận lời thách đấu. Cô thông dịch viên nhìn ông với vẻ ái ngại và khuyên ông: "Cụ già rồi! Không đánh lại họ đâu, lỡ có bề gì thì khổ con cháu". Ông Phan Thọ thẳng thừng: "Tôi đã nhận lời thách đấu, chết tôi chịu chứ tôi không để họ coi thường dân mình. Ông xắn tay áo bước xuống sân nghênh chiến, anh võ sĩ Hàn Quốc tung cú đá cực mạnh nhắm vào đầu lão võ sư, ông liền hụp người xuống né cú đá hiểm và cú đá này trúng vào chiếc cột nhà của ông khiến chiếc cột bị nứt làm đôi. Tất cả mọi người đứng xem trận đấu như nín thở. Khi người võ sĩ Hàn Quốc tung tiếp cú đá thứ 2, ông lại dùng Độc xà thám nguyệt và một lần nữa ông đã thành công, tay võ sĩ người Hàn đổ gục xuống sân gạch như cây chuối bị chặt và khoát tay xin thua. Ngoài ra khi nhắc đến Phan Thọ, người ta vẫn thường kể cho nhau nghe về trận đánh giữa ông và con heo rừng hung dữ. Năm ấy, Phan Thọ 45 tuổi. Có một con heo rừng lạc xuống đồng bằng và húc bị thương rất nhiều thanh niên trong vùng. Thấy con heo rừng to và quá hung dữ nên ai cũng sợ. Cả 3 làng ở thôn Bình Nghi cùng nhau tìm cách giết ác thú để trừ hại cho dân. Lão võ sư Phan Thọ nhận lời tiêu diệt con heo rừng hung dữ. Ông kể: "Khi tui xáp trận, tất cả những người dân của thôn Bình Nghi đều dạt ra bao xung quanh. Tui cầm cái vồ dùng để đập đất đánh với nó hơn 3 giờ đồng hồ mới hạ được nó, chỉ tiếc là cái áo cổ vuông bà xã vừa may chưa mặc được bao lâu đã bị con heo làm rách nát".
Giờ đây, khi tuổi tác ngày đã càng cao, lão võ sư Phan Thọ vẫn chưa muốn "dưỡng già", ông vẫn thâu nhận đêï tử với mong muốn truyền lại những tuyệt kỹ của võ học cho đời sau, trong lòng ông vẫn canh cánh một điều: Vẫn chưa có người thực sự là truyền nhân của ông. Ông cười chua chát: "Ngày xưa tui đi học võ mất cả hơn chục năm trời, còn tụi trẻ bây giờ nó chỉ học vài năm, thậm chí chỉ vài miếng võ vẽ là nản, rồi nghỉ luôn".
II. VÕ ĐƯỜNG HỒ NGẠNH
Võ đường Hồ Ngạnh do võ sư Hồ Sừng làm chủ môn phái, ông sinh năm 1938, quê quán thôn Hòa Mỹ (từ làng võ Thuận Truyền tách ra), xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn.
Võ sư Hồ Ngạnh
Nếu tính từ đời cố lão sư danh tiếng Hồ Ngạnh (tên thực là Hồ Nhu) đến đời võ sư Hồ Sừng và lớp con cháu hiện nay thì võ đường họ Hồ ở đất Thuận Truyền đã có 5 thế hệ chung tay phát huy sự nghiệp võ nghệ của tiên tổ. Đây là một trong những võ đường có truyền thống lâu đời và có nhiều đóng góp cho võ cổ truyền Bình Định nói riêng võ cổ truyền ViệtNamnói chung.
Kể chuyện làng võ Thuận Truyền không thể không nhắc đến huyền thoại Hồ Nhu. Ngôi nhà võ đường họ Hồ hiện nay cũng chính là nơi xưa kia cố lão sư Hồ Nhu sinh sống và tập võ, truyền võ. Võ đường Hồ Ngạnh hay làng võ Thuận Truyền này được nhắc đến nhiều bởi môn roi. Các bài roi Thất bộ, Thái Sơn, Bát quái, Tứ môn, Ngũ môn, Trực chỉ, Tấn nhất, Tiên ông… rồi ngay cả Lạc côn - bài roi của cố lão sư Hồ Nhu (ông nội võ sư Hồ Sừng) vốn được xem là di sản văn hóa phi vật thể quý hiếm của làng võ cổ truyền Thuận Truyền cũng là tài sản vô giá của võ cổ truyền Bình Định. Đường roi Thuận Truyền cũng như võ đường Hồ Ngạnh đã được lan tỏa, phát huy mọi nơi trong các làng võ cổ truyền ở Bình Định và một số tỉnh, thành trong cả nước.
Địa chỉ võ đường Hồ Ngạnh: Xã Bình Thuận, Huyện Tây Sơn, Tỉnh Bình Định.
Số điện thoại: 01268552206 - Võ sư Hồ Bé (con trai của Võ sư Hồ Sừng).
Roi Thuận Truyền
1- Hồ Ngạnh và đường roi tuyệt kỹ vang danh đất Thuận Truyền
Trong lịch sử võ cổ truyền Bình Định, nói đến roi Thuận Truyền, nhân vật mà người ta nhắc tới trước tiên với niềm tự hào và lòng tôn kính vô bờ là Hồ Ngạnh. Thật ra Ngạnh là tên con, còn tên thật của ông là Hồ Nhu. Ông sinh năm 1886, quê quán ở thôn Háo Nghi, xã Bình An, trú quán tại thôn Hòa Mỹ xã Bình Thuận, thuộc tổng Thuận Truyền huyện Bình Khê. Theo gia phả họ Hồ, song thân Hồ Nhu - ông Đốc Năm (Hồ Đức Phổ) và bà Lê Thị Huỳnh Hà - đều là những võ nhân cao thủ, đặc biệt là bà mẹ, đã ảnh hưởng rất quan trọng đến việc đào tạo tài năng võ thuật của con trai, đồng thời có công lớn trong việc khai sáng dòng võ họ Lê và họ Hồ trên đất Thuận Truyền.
Hồ Nhu được thọ giáo với nhiều thầy học khác nhau, học cả quyền và thập bát ban võ nghệ. Những võ sư mà Hồ Nhu theo học là Đội Sẻ, Hồ Khiêm… Song hai người thầy ảnh hưởng quan trọng nhất trong cuộc đời Hồ Nhu là mẹ ông và một người thầy khuyết danh (bạn của cha ông, từng là tạo sĩ võ). Hồ Nhu sở trường về roi và thành danh cũng về roi. Đường roi của ông được giới chuyên môn truyền tụng là tuyệt kỹ vô song. Trong vô vàn giai thoại về vị võ sư khai môn dòng võ Thuận Truyền này, riêng chuyện ông học roi, luyện roi cũng đủ khiến ta khâm phục về tinh thần khổ luyện.
Năm Hồ Nhu tròn mười hai tuổi thì bà Lê Thị Huỳnh Hà nhờ một võ sư trong vùng dạy võ, tối về bà kiểm tra và uốn nắn cho con những chỗ sai. Khi thấy con đã thạo ngũ hành, thất bộ, bà bắt đầu dạy roi. Những đêm trăng sáng, bà dẫn con ra truông vắng, chọn một khoảnh đất bằng, chỉ dẫn từng chiêu thức. Người mẹ dùng than vẽ một vòng tròn trên mặt đất, cho phép con chỉ được di chuyển trong phạm vi vòng tròn đó. Bà yêu cầu rất cao về sự chuẩn xác trong đường nét, thân pháp và rèn tính cẩn trọng. Để thử uy lực trong đường roi của con, bà lấy bốn cái đĩa lớn đựng dầu phụng (dầu lạc), mỗi đĩa ngâm một ngọn bấc, đặt quanh vòng tròn rồi châm lửa vào đầu bấc. Bốn ngọn lửa bừng lên, khi nào ngọn gió từ đường roi phát ra làm tắt phụt cùng lúc là đạt.
Trong võ thuật, vũ khí không chỉ để công mà còn là để thủ. Công hay thủ đều đòi hỏi sự tinh nhạy của người đánh. Lúc Hồ Nhu đã tiến bộ, mỗi khi cậu múa roi, bà mẹ di chuyển xung quanh, dùng sỏi ném vào. Sỏi trúng vào roi vào người cắc cắc, bụp bụp. Ban đầu cậu đỡ đòn còn vụng về, sau điêu luyện dần, đường roi vun vút, tiếng sỏi va cắc cắc mỗi lúc một giòn. Những vốc sỏi ném vào bị đường roi của Hồ Nhu gạt rụng rào rào như một cơn mưa.
Việc ông tạo sĩ võ đến lánh nạn tại nhà họ Hồ là cơ duyên đặc biệt để Hồ Nhu tiến tới bước “đại thành” trong kỹ thuật đánh roi. Vị tạo sĩ này rất giỏi roi Kinh, thời còn tại triều ông đảm trách việc luyện roi cho quân cấm vệ hoàng thành. Trong những ngày lưu lại Thuận Truyền, khảo sát tâm tính và vốn võ nghệ của Hồ Nhu, ông tạo sĩ nhận ra một năng khiếu võ học hiếm có. Để đền ơn bạn đã cưu mang, ông quyết định luyện các ngón roi bí truyền cho cậu thiếu niên.
Người con đầu của Hồ Nhu tên là Ngạnh. Theo phong tục Bình Định, người ta gọi cha mẹ bằng tên con. Gọi riết thành quen, người đời gần như chẳng mấy ai nhắc tới tên húy của ông mà gọi luôn là Hồ Ngạnh.
Đặc điểm roi Hồ Ngạnh (hay đặc điểm roi Thuận Truyền) là lấy nghịch chế thuận, vận dụng triệt để phép âm dương để trả đòn, để đánh hạ đối thủ. Đường roi Lạc Côn Hồ Nhu học từ Hồ Khiêm là đường roi tuyệt kỹ với nguyên tắc cộng lực, dựa sức đối phương để đánh lại đối phương. Còn ngón roi đánh nghịch độc đáo do vị tạo sĩ võ truyền cho, Hồ Nhu chỉ dùng đến khi đối phương là cao thủ mà để lộ sát khí, tức là có ý hãm ông vào chỗ chết. Tương truyền ngọn roi khai tử của ông chấm vào sa mỡ của kẻ nào, là kẻ đó cầm chắc cái chết trong vòng ba, bảy ngày. Roi đổ thủy (một đầu chúc một đầu ngửa), roi rút (đánh hai đầu) và roi điểm huyệt cũng là các tuyệt chiêu của ông. Những ngón roi này ông chỉ truyền cho một vài học trò tâm đắc.
Mỗi bài roi Thuận Truyền - nay đã khá phổ biến ở Bình Định - gồm lời thiệu và động tác. Lời thiệu để dẫn dắt động tác, còn động tác là các đòn thế được tổ chức theo các phách roi cơ bản. Các phách roi cơ bản là Bát, Bắt, Triệt, Chận, Hoành, Khắc, Lắc, Tém. Bát: phá đòn đánh từ trên xuống; Bắt: phá đòn đâm từ nửa thân trên; Triệt: phá đòn đánh tạt ngang sườn; Chận: phá đòn đánh phất của đối phương; Hoành: đưa ngang roi bên trái rồi bên phải để lựa thế tấn công địch thủ; Khắc: làm cho roi của đối phương văng ra xa; Lắc: né đòn tấn công đâm thẳng từ thắt lưng trở lên; Tém: tóm gạt tất cả đầu roi, đòn đâm thẳng của đối phương. Trong đó, có phách nặng về thủ, có phách nặng về công, cũng có phách vừa thủ vừa công. Roi tiên quyền tiếp. với môn roi, bên ra đòn trước thường chiếm thế thượng phong. Nhưng không phải lúc nào, trận nào anh cũng gặp thuận lợi để ra đòn trước, do đó phải biết thủ để tìm cơ hội. Thủ không có nghĩa là né đòn thụ động, mà phải biết cách phá trừ đòn của đối phương rồi liền đó ra đòn tiêu diệt đối phương. Cũng có khi thủ là một cách trá bại để nhử đối phương vào thế. Các phách roi được sử dụng không phải nhất nhất theo thứ tự trên, mà phải linh hoạt. Linh hoạt ở chỗ không chỉ vận dụng phách nào thích hợp, mà còn biết chuyển hóa hư thực trong từng phách. Sự linh hoạt ấy biểu hiện đa dạng, nhưng có thể rút ra mấy đấu pháp: dùng thủ để công, trước thủ sau công, trừ công để thủ, thủ giả công thật.
Tiếng tăm con nhà võ đi liền với thành tích trong giao đấu. Nhưng việc săn tìm danh tiếng là xa lạ với tính cách Hồ Ngạnh, vì ông trầm tĩnh, ít nói và chẳng bao giờ khoe khoang. Song ở đời hữu xạ tự nhiên hương, tiếng đồn Hồ Ngạnh giỏi roi khiến nhiều cao thủ tò mò. Một bữa nọ ông đang tắm ở giếng thì một người đi đường bước tới hỏi xin nước uống và cầm cái gáo dừa chờ ông sớt nước cho. Hồ Ngạnh vừa cúi xuống lấy gàu thì vị khách nọ vung gáo đập vào đầu. Nghe hơi gió, ông vung ngay dây gàu đỡ thân gáo rồi sẵn đà co chân xuất cước đá văng vị khách vô lễ khỏi thềm giếng. Một lần khác Hồ Ngạnh đi ăn giỗ về hơi tối, bất chợt một bóng đen từ bụi rậm vác đao nhảy ra đón đường. Ông rút khăn lông trên vai vung lên, trong nháy mắt đoạt gọn cây đao. Bóng đen chắp tay xin lỗi. Hỏi, người ấy thưa rằng nghe đồn ông Ngạnh giỏi nên muốn thử sức. Hồ Ngạnh chỉ cười không nói, quăng trả cây đao, đi thẳng.
Các võ nhân thử tài Hồ Ngạnh thì nhiều, nhưng có hai nhân vật nổi tiếng nhất là Dư Đành và Tàu Sáu.
Dư Đành, như đã nói, là một cao thủ võ lâm đương thời, cầm đầu một đảng cướp, hoành hành khắp vùng Tuy Viễn. Nghe tiếng Hồ Ngạnh Thuận Truyền, Dư Đành bèn nhắn tin hẹn gặp. Đêm đến, Hồ Ngạnh một mình một roi ra điểm hẹn. Bè đảng Dư Đành chờ sẵn, mời ông hợp tác làm ăn. Hồ Ngạnh từ chối. Bên Dư Đành ra điều kiện nếu đấu thua phải gia nhập đảng cướp. Hồ Ngạnh chỉ cười khẩy. Thế là điểm hẹn nơi truông vắng xảy ra một trận thư hùng. Mặc dù bên đối phương đông, Hồ Ngạnh không hề nao núng. Đàn em Dư Đành tuy vào hàng cao thủ, nhưng đều không phải là đối thủ của Hồ Ngạnh. Khi bọn đàn em bị đánh rạp, Dư Đành mới lộ diện. Ngoài sức mạnh vô địch, Dư Đành còn có võ công lão luyện, nhưng trước đường roi thượng thừa của Hồ Ngạnh, tên chúa đảng khét tiếng không sao tìm ra chỗ hở. Thấy Dư Đành ỷ sức hung hăng, Hồ Ngạnh sử dụng tuyệt kỹ, đá văng thiết bản khỏi tay đối phương rồi xoay người giở thế đánh nghịch. Ngọn roi phăng tới, Dư Đành biết kết cục đã đến, nhắm mắt chờ đợi, nhưng tay roi vừa chạm áo đối phương Hồ Ngạnh đã thu về.
Nhưng Dư Đành vẫn chưa chịu bỏ cuộc.
Một hôm Dư Đành cho đàn em lên rẫy Hồ Ngạnh nhổ hết củ mì (củ sắn) chất thành mấy giỏ lớn và cho người về báo cho Hồ Ngạnh rằng Dư Đành đang ở rẫy mì, nhắn Hồ Ngạnh ra gặp. Lúc Hồ Ngạnh tới nơi chỉ thấy mấy giỏ mì và đòn gánh để sẵn chứ không thấy người. Đoán rằng Dư Đành âm mưu chờ mình quảy mì về sẽ tấn công nên Hồ Ngạnh quay về tay không. Quả nhiên Dư Đành đã phục sẵn bên hàng rào chè của một nhà gần đường đi với một cái bắp cày bằng gỗ kiền kiền nặng trịch. Hồ Ngạnh vừa trờ tới, Dư Đành vung bắp cày ngang cổ ông đánh phạt qua. Nghe hơi gió, Hồ Ngạnh trụt xuống, bắp cày của Dư Đành đang đà phạt ngang cây bồ lời đứt tiện làm đôi như dao chém chuối. Nhanh như chớp, Hồ Ngạnh di ngựa áp sát tới, chụp ngang bắp cày trên tay Dư Đành, rồi vận dụng phép cộng lực trong thế lạc côn, biến sức đối phương thành sức của mình, hất mạnh Dư Đành lọt vào giữa bụi tre đánh roạt. Mắc kẹt giữa bụi tre um tùm không cách nào thoát được, Dư Đành cất tiếng xin Hồ Ngạnh tha tội và đưa giúp mình ra ngoài. Hồ Ngạnh giận, nói: “Chú đánh hiểm vậy, tôi né không kịp thì đứt đầu rồi, còn xin tha sao?”. Dư Đành hạ mình: “Tôi biết thế nào anh Chín cũng né được. Xin anh Chín rộng lượng bỏ qua. Từ nay tôi không dám nữa.” Hồ Ngạnh thấy Dư Đành van nài tha thiết quá, bèn mượn cây rựa phát tre cho Dư Đành ra ngoài. Xúc động trước sự đối xử cao thượng của họ Hồ, Dư Đành quỳ gối cúi đầu tạ tội và thề sẽ không bao giờ dám xâm nhập đất Thuận Truyền. Quả nhiên từ đó về sau, Dư Đành giữ đúng lời hứa.
Tàu Sáu- Diệp Trường Phát, là một võ sư người Minh Hương ở An Thái. Việc thử tài của ông với Hồ Ngạnh là một ước định hữu hảo với hai môn côn, quyền, nhằm tìm hiểu tài nghệ của nhau nên giao hẹn không gây thương tích, chỉ dùng mực ghi dấu trên y phục của đối thủ. Cuộc tỷ thí của hai ông diễn ra trước sự chứng kiến của rất nhiều người, lấy thời gian tàn một cây nhang tính một hiệp giao đấu. Qua mỗi hiệp hai người tự thông báo trên người mình có bao nhiêu dấu mực của đối phương. Về quyền, mặc dù số dấu mực trên y phục hai bên bằng nhau, nhưng khi xem lại thì dấu mực Tàu Sáu trên áo Hồ Ngạnh nhạt hơn. Ông Ngạnh thẳng thắn thừa nhận mình thua Tàu Sáu một bậc. Người xem thắc mắc, ông phân tích: Đường quyền thế cước của Tàu Sáu hàm chứa sức mạnh giông bão, nếu đi trọn có thể đoạt mệnh hoặc gây chấn thương nặng cho đối phương, nhưng do đã đạt đến mức vận hành công lực như ý nên dấu mực vừa điểm nhẹ trên áo Hồ Ngạnh, Tàu Sáu liền thu khí công về trong nháy mắt. Về côn, hai ông cũng giở tất cả sở trường ra thi đấu, người xem không còn thấy rõ bóng người, chỉ thấy đường côn loang loáng và tiếng côn đập vang lên bôm bốp. Khi vừa tàn cây nhang, hai ông dùng thế hồi loan nhảy vút ra ngoài, bái tổ, rồi chào nhau, sắc diện vẫn điều hòa tươi tỉnh. Họ lại tự báo với nhau số dấu mực trên người. Tàu Sáu mang nhiều dấu mực hơn, ông kính cẩn hoành côn xá ông Ngạnh, ứng khẩu: “Đoản côn Thuận Truyền duy hữu chủ”, nghĩa là: Đoản côn chỉ có Thuận Truyền (Hồ Ngạnh) làm chủ.
Hồ Ngạnh mất năm 1976. Các học trò thống nhất tôn ông làm tổ sư của môn phái và lấy ngày giỗ ông (mồng 6 tháng 2 âm lịch) làm ngày giỗ Tổ hàng năm.
Buổi sinh thời cũng như sau khi ông khuất bóng, vì tài năng và uy tín võ học của ông quá lớn, nên ở quê hương ông, các thế hệ hậu sinh và khắp một vùng dân cư rộng lớn, khi nhắc đến vị võ sư đệ nhất tài hoa này đã dùng danh xưng Ông Chín để tránh gọi tên húy lẫn tên tục của ông. Tuy vậy, trong những hồi ức hào sảng về ông, hai chữ Hồ Ngạnh vẫn buột ra trên môi người kể chuyện với một niềm tự hào khó tả. Hoặc đang một ván cờ tướng, người đi được một nước cờ hiểm đắc ý khoe đó là “nước cờ ông Ngạnh”. Ông như vẫn đang sống cùng mạch đời, ẩn hiện trong những đường roi kỳ diệu của đất võ Thuận Truyền.
2- Một số nhân vật nổi danh của dòng roi Thuận Truyền
Hồ Ngạnh có nhiều học trò giỏi: Xã Nung, Lê Thành Phiên, Xã Trước, Cả Đang, Tạ Thức, Xã Thọ, Hương bộ Lâm, Hương bộ Trọng, Huỳnh Xuyến, Hồ Tiền, Lê Bá Cừu, Dư Trốn, Nguyễn Song Bá, Tạ Cảnh, Sáu Được, Lâm Như Hiệp, Bảy Ghình, Hương bộ Trấp, Cửu Quyền, Dư Đính, Đặng Vĩnh Nghê, Hồ Sừng, Phan Canh, Đào Sĩ Tần, Lê Kim Bá, Phan Hộ, Lê Công Chanh, Dương Công Đạo, Mai Xuân Thiện. Hiện nay cháu nội của ông là Hồ Sừng tiếp tục nối nghiệp lò võ của ông.
Xã Nung tên thật là Nguyễn Thức, người làng Háo Đức, là học trò lớn nhất của Hồ Ngạnh. Ông giỏi võ, nhưng lầm lì ít nói và không tham gia vào các cuộc cao đàm khoát luận. Hai thôn Bính Đức vào Háo Đức cùng sống về nghề làm ruộng, thường có sự tranh chấp về nước tưới. Đêm đêm dân Bính Đức ra tháo nước khiến cho ruộng Háo Đức bị khô. Người làng Háo Đức phẫn nộ nhưng ngại dân Bính Đức giỏi võ nên phải chịu thiệt. Xã Nung biết chuyện, một mình vác cuốc ra đồng đắp nước ruộng. Dân Bính Đức được tin, kẻ gậy gộc, người rựa quéo, đòn gánh ầm ầm kéo lên gây sự. Xã Nung không nói không rằng, bập lưỡi cuốc xuống bờ đất thịt, bẻ phăng cán cuốc làm roi, đánh tan cả mấy chục người. Từ đó dân Bính Đức không dám tháo nước ruộng làng Háo Đức nữa.
Lê Thành Phiên, tục gọi Hương bản Hào, là cháu họ của bà Lê Thị Huỳnh Hà. Lê Thành Phiên là đệ tử ruột của võ sư Hồ Ngạnh. Buổi sinh thời của sư phụ, ông được Hồ Ngạnh dẫn theo trong các du lãm. Các cao thủ không dám vô phép với Ông Chín, nhưng họ lại rất muốn đo lường quyền thuật và côn pháp Thuận Truyền nên lắm phen Lê Thành Phiên bị làm phiền. Thử tài ông có nhiều người danh tiếng: Hương kiểm Mỹ, Hương bộ Trọng, Bảy Ghình, ... Hương kiểm Mỹ mới gặp ông đã đưa bông tiền đấm dứ trước mặt. Nếu ông mắc lừa lui lại, Hương kiểm Mỹ sẽ mở bông hậu ra đòn tiếp. Đoán được thâm ý của đối thủ, ông không tránh mà một tay giở bông tiền đánh thốc tới đỡ đòn, đoạn tay kia ra tiếp liền bông hậu hất Hương kiểm Mỹ ngã vô cối giã gạo. Sau chuyện này, Hương kiểm Mỹ ngộ ra chân lý “núi cao còn có núi cao hơn”, chuyên tâm tìm thầy hay để học tiếp, không ngừng nghiên cứu tập luyện, sau thành một võ sư lừng lẫy. Hương bộ Trọng nghe mọi người ca ngợi ông Phiên thì không phục, nói: “Để ta làm một đá thử chơi”. Nào ngờ thử rồi, từ chỗ coi thường chuyển sang bái phục. Bảy Ghình, một người cùng trang lứa với ông Phiên, cũng kiếm cớ so tài. Ông Ghình ra đòn nào ông Phiên hóa giải đòn nấy rất nhẹ nhàng, và cũng bằng một đường côn tuyệt kỹ khiến ông Ghình khuất phục, xin làm đồ đệ. Ông Phiên dẫn ông Ghình vào ra mắt thầy, từ đó Bảy Ghình thành học trò Hồ Ngạnh.
Nhiều phen ông Phiên phụng mệnh thầy nhận lời thách đấu của các cao thủ thập phương. Nổi tiếng nhất là trận đấu với Võ Nhuận.
Lê Thành Phiên theo thầy lên Tiên Thuận dạy võ, Võ Nhuận - một võ sĩ lừng danh ở Tiên Thuận tìm tới thách đấu. Thấy Võ Nhuận vóc vạc to lớn, bộ điệu nghênh ngang, lại có một đám người theo sau hậu thuẫn, Hồ Ngạnh hỏi Lê Thành Phiên: “Con dám đấu không?”. Lê Thành Phiên thấy Võ Nhuận to khỏe dềnh dàng thì có ý ngại: “Thưa thầy, nó to xác quá, còn tôi nhỏ vầy, đấu sao cân?”. Võ Nhuận hung hăng: “Nếu sợ đấu quyền không lại thì ta đấu roi.” Trước sự chứng kiến của đám đông và trước ánh mắt của thầy, Lê Thành Phiên nhận lời: “Được!”, nhưng trong bụng vẫn lo lo. Hồ Ngạnh giao hẹn: đánh để phân tài cao thấp, không được gây thương tích; rồi cho lấy vải thấm mực bịt đầu hai cây roi. Hai bên nhận roi, bái tổ. Những người tới coi đấu ai cũng ái ngại cho Lê Thành Phiên. Không ai bảo ai, nhưng những kẻ hiếu kỳ dần dần đứng dạt về phía Võ Nhuận. Võ Nhuận ra đòn trước bằng thế đâm lỉa. Lê Thành Phiên nghiêng người né đòn rồi chấm roi liên tiếp vào bụng vào lưng đối thủ. Võ Nhuận xin thua, nhưng lại đòi đấu quyền. Lê Thành Phiên ban đầu chỉ né đòn để quan sát, thấy Võ Nhuận ỷ mạnh chứ ra đòn không kín. Bằng một thế đòn thấp, ông tiếp cận đối phương rồi nghiêng mình tung một đá, Võ Nhuận trúng đòn văng ra tới ba thước.
Một lần đấu roi với một võ sư ở Phù Cát. Một lần đấu quyền với một võ sĩ Quyền Anh có cân nặng gấp ba trọng lượng ông. Ba lần thượng đài tại các sàn đấu quốc gia tại Quảng Ngãi, Bình Định. Chiến thắng, đó là mùi vị duy nhất Lê Thành Phiên nếm qua trong nghiệp võ. Đoản côn, trường côn, trường thương, xà mâu, độc phủ, đặc biệt là siêu vào tay ông như có linh hồn. Lập bộ vững như núi thái sơn, tiến thoái như rồng như hổ, uy lực dũng mãnh, phong thái phi phàm – ông xứng danh là học trò yêu của Hồ Ngạnh. Trong cuốn sổ ố vàng mà ông cất giữ cẩn thận như báu vật, là những dòng chép tay về phả hệ họ Hồ, họ Lê; các bài võ, bài thuốc ông học từ thầy Hồ Ngạnh, có cả những bài dịch ra thể lục bát cho dễ nhớ. Đó là những tư liệu quý giá ròng ròng kỷ niệm của một cuộc đời gắn bó cùng nghiệp võ.
Sáu Được là một học trò giỏi của Hồ Ngạnh, từng giành nhiều chiến thắng lừng lẫy trong các trận đấu đài ở miềnNam. Lập nghiệp xa quê, ông chiết hai chữ Bình Định - Tây Sơn lập nên võ đường Bình Sơn ở Kon Tum, rất đông học trò. Một số võ đường nổi tiếng tại Tây Sơn bắt nguồn từ dòng võ Thuận Truyền có thể kể Hồ Sừng, Đặng Vĩnh Nghê, Hồ Sơn Kỳ, Lê Công Chanh, Mai Xuân Thiện …
Các học trò giỏi của Võ sư Hồ Ngạnh, người thành danh với thành tích thi đấu, người mở võ đường thành danh sư của một vùng, người khoác áo tu hành trở thành trụ trì ở những ngôi chùa danh tiếng, người sớm khuya vui với ruộng đồng xóm mạc… đều góp phần làm vẻ vang tổ nghiệp. Hỏi, chẳng ai khoe, nhưng nếu gặp họ trong ngày giỗ Tổ, hoặc một tình huống mà người trong cuộc là họ phải trả lời bằng ngôn ngữ đặc trưng của con nhà võ, thì hồn vía của Đất võ Thuận Truyền sẽ hiển hiện trong từng cử động, từng đường roi thế kiếm xuất thần.
3- Lò võ Hồ Sừng và việc duy trì nghiệp tổ
Võ sư Hồ Sừng là cháu nội của Hồ Ngạnh. Thân sinh mất sớm, ông được ông nội đích thân truyền dạy võ nghệ. Thông suốt võ kinh, võ đạo và nắm giữ toàn bộ di sản võ thuật tông phái họ Hồ, tuy nhiên, do bản tính thuần hậu và sức khoẻ có phần hạn chế, võ sư Hồ Sừng ít dự vào các cuộc tỷ thí tranh chức vô địch. Nối nghiệp nội tổ, ông mở võ đường tại thôn Hòa Mỹ, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn; đào tạo các bộ môn võ cổ truyền, đặc biệt là côn pháp. Học trò theo học rất đông. Có một quy ước bất thành văn tại làng võ Thuận Truyền, đó là các học trò sau khi làm lễ bái sư, sẽ được lấy họ Hồ gắn với tên mình để làm danh xưng trong làng võ.
Về già hay đau yếu, ông giao quyền điều hành võ đường cho con trai đầu, võ sư Hồ Cương. Trong các giải võ cổ truyền cấp tỉnh và cấp quốc gia, học trò Hồ gia được mời tham gia và luôn luôn lập thành tích cao trong thi đấu.
Con cháu của Hồ gia như Hồ Bé, Hồ Sửu, Hồ Hiệp, Hồ Sỹ, Hồ Dư, Hồ Thứ, Hồ Thị Kim Tâm, Hồ Thị Thảo, Hồ Đức Hạnh...đều sớm bộc lộ năng khiếu võ thuật, người mở lò dạy võ tại nhà, người được chọn vào đội võ thuật của Bảo tàng Quang Trung. Đặc biệt, lò võ Hồ gia đã cung cấp cho Câu lạc bộ Võ thuật cổ truyền tỉnh Bình Định nhiều nhân tài võ thuật: Hồ Thị Diêu, Hồ Văn Núi, Hồ Văn Tú...
Từ năm 2002 đến nay, các võ sĩ xuất thân từ lò võ Hồ Sừng (do võ sư Hồ Cương, Hồ Văn Bé và huấn luyện viên Hồ Sỹ đào tạo) đã liên tiếp giành được nhiều giải thưởng lớn tại các cuộc liên hoan, giải vô địch võ cổ truyền...
Trần Ngọc Năm @ 08:47 27/03/2014
Số lượt xem: 711
- Hùng kê quyền (30/04/13)
- Roi Thái Sơn (30/04/13)
- Tứ linh đao (30/04/13)
- Hùng kê quyền (30/04/13)
.gif)

Các ý kiến mới nhất